Welcome


Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay23
mod_vvisit_counterHôm qua186
mod_vvisit_counterTuần này650
mod_vvisit_counterTháng này4169
mod_vvisit_counterTất cả56326
Trang chủ
Hướng dẫn thành lập và hoạt động của các Trung tâm tư vấn pháp luật

Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 01/2010/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

Nhằm hướng dẫn các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Nghị định số 77/2008/ND-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật thay thế Nghị định số 65/2003/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã chủ trì soạn thảo và ban hành Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 9/02/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định.

Thông tư gồm có 4 Chương với 23 Điều quy định cụ thể và hướng dẫn một số điều của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP nhằm bảo đảm tính khả thi, chặt chẽ, thực hiện thống nhất các quy định của Nghị định trong thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật.

1. Về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh 

- Cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật

Thông tư số 01/2010/TT-BTP quy định khái quát về tiêu chí của các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật trực thuộc, coi trọng chất lượng của các tổ chức tư vấn được thành lập và hoạt động trên thực tế, tránh việc liệt kê cụ thể sẽ không đầy đủ (Điều 1).

- Cơ cấu tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật

Thông tư quy định cụ thể hơn một số điều của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh như: cơ cấu tổ chức của Trung tâm (Điều 2 Thông tư), Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm (Điều 4), đăng ký hoạt động của Trung tâm (Điều 5), đăng ký hoạt động của Chi nhánh (Điều 6).

- Đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh

Các loại giấy tờ liên quan trong hồ sơ đăng ký hoạt động được quy định cụ thể, bao gồm: giấy tờ xác nhận về trụ sở làm việc, hồ sơ đề nghị cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật, hồ sơ của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Để thường xuyên cập nhật thông tin trong quá trình quản lý, khi thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh có trách nhiệm gửi văn bản thông báo cho Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động, kèm theo các giấy tờ liên quan về việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động (Điều 7).

- Thù lao tư vấn pháp luật và chế độ tài chính

Để tránh tình trạng thu thù lao tùy tiện, Thông tư quy định khá chặt chẽ về chế độ thu thù lao, nêu rõ các khoản chi hợp lý, cần thiết cho hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh để làm căn cứ kiểm tra việc thu, chi; đề cao trách nhiệm của các tổ chức chủ quản trong việc quyết định thu thù lao, ban hành biểu thù lao. Trường hợp đã cân đối thu chi mà vẫn có số dư thì Trung tâm tư vấn pháp luật phải nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

- Quản lý hồ sơ công việc

Điều 10 Thông tư quy định về việc lập, ghi chép sổ công việc và lưu hồ sơ công việc nhằm bảo đảm phản ánh đầy đủ về hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước.

- Trách nhiệm của tổ chức chủ quản về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật

Nhằm phát huy vai trò và nâng cao trách nhiệm của tổ chức chủ quản đối với các Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh do mình thành lập trong suốt quá trình hoạt động, Thông tư quy định riêng một điều về trách nhiệm của tổ chức chủ quản đối với các Trung tâm tư vấn pháp luật (Điều 13). Có sự quan tâm hỗ trợ thường xuyên và giám sát chặt chẽ của tổ chức chủ quản thì hoạt động tư vấn pháp luật mới thực sự gắn kết với hoạt động xã hội của mỗi tổ chức, phục vụ tốt cho hội viên, thành viên và lợi ích chung của tổ chức đó.

2. Về người thực hiện tư vấn pháp luật

Ngoài tư vấn viên và công tác viên là những người thực hiện việc tư vấn pháp luật thì một trong những điểm mới của Nghị định 77 là việc quy định Trung tâm TVPL được ký hợp đồng với Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc cho Trung tâm, Chi nhánh (Điều 17). Đây là các luật sư đã đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định tại Điều 50 Luật luật sư và được cấp Giấy đăng ký hành nghề luật sư. Hợp đồng lao động mà luật sư ký kết với Trung tâm là hợp đồng có thời hạn hoặc không xác định thời hạn nhằm bảo đảm duy trì số lượng người thực hiện tư vấn pháp luật (luôn có ít nhất là 02 người). Vấn đề thù lao đối với luật sư làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật cũng được quy định trong Thông tư để đảm bảo thu thù lao theo đúng nguyên tắc, mức thù lao hợp lý.

3. Về chế độ báo cáo, kiểm tra

Chế độ báo cáo, thời hạn gửi báo cáo được quy định tại Điều 19 Thông tư nhằm bảo đảm cơ chế thông tin đầy đủ, kịp thời, phối hợp quản lý và thống nhất với các quy định khác của Bộ và ngành Tư pháp về chế độ báo cáo. Nhiệm vụ kiểm tra về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Chi nhánh được phân cấp cụ thể cho Sở Tư pháp nhằm theo dõi và quản lý chặt chẽ hơn lĩnh vực này ở địa phương. Bộ Tư pháp chỉ tiến hành kiểm tra khi thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Sở Tư pháp.

4. Về tổ chức thực hiện

Điều 21 của Thông tư quy định chuyển tiếp về một số vấn đề như: Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật và Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật đã được cấp theo quy định của Nghị định số 65/2003/NĐ-CP vẫn tiếp tục có hiệu lực; việc cấp đổi Thẻ tư vấn viên pháp luật trong trường hợp người đã được cấp Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật có nguyện vọng, yêu cầu cấp đổi.Nhằm đơn giản hóa và công khai các thủ tục hành chính, Thông tư ban hành kèm theo 03 Phụ lục và 14 mẫu giấy tờ hướng dẫn các cá nhân và tổ chức có liên quan sử dụng trong quá trình hoạt động tư vấn pháp luật và công tác quản lý nhà nước.
 
Xuân Anh

 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn
 
< Trước   Tiếp >